Ngày 20/06/2025 

CÁC KHUYẾN NGHỊ PHÂN TÍCH CƠ BẢN 

SSI cập nhật GVR 

GVR: Lợi nhuận duy trì đúng kế hoạch cùng với kỳ vọng về đẩy nhanh lộ trình chuyển đổi đất 

  • Chúng tôi đã tham dự Đại hội đồng cổ đông thường niên của GVR diễn ra vào ngày 17/6/2025. Công ty đặt kế hoạch doanh thu hợp nhất năm 2025 đạt 31 nghìn tỷ đồng (+8% svck), và lợi nhuận sau thuế hợp nhất đạt 4.826 tỷ đồng (+3% svck). 

  • Mặc dù GVR cho rằng thuế đối ứng từ Hoa Kỳ có thể ảnh hưởng đến nhu cầu cao su tự nhiên trong nửa cuối năm 2025, công ty vẫn kỳ vọng giá bán bình quân sẽ tăng 6-8% svck. Bên cạnh đó, việc thanh lý vườn cây cao su tại Việt Nam, Lào và Campuchia (tổng diện tích khoảng 10.000 ha) cũng được dự báo sẽ đóng góp đáng kể vào doanh thu. 

  • Ở mảng khu công nghiệp (KCN), GVR có kế hoạch đẩy mạnh hoạt động cho thuê thông qua các công ty con. Giai đoạn 2025-2030, công ty đặt mục tiêu phát triển thêm hơn 1.600 ha KCN mới. Đồng thời, GVR cũng đặt mục tiêu giảm chi phí 5% svck trong năm 2025. 

  • Công ty công bố kế hoạch tăng mạnh chi đầu tư (CAPEX) lên đến 1.048 tỷ đồng, gấp 29,8 lần so với cùng kỳ 

  • Một số dự án KCN của các công ty con và liên kết đã nhận được chấp thuận đầu tư từ Thủ tướng Chính phủ, bao gồm: 

  • KCN NTC3 – Bình Dương (344 ha, GVR sở hữu 20,42%), dự kiến đi vào hoạt động trong năm 2025. 

  • KCN Bắc Đồng Phú mở rộng (317 ha, GVR sở hữu 28,17%), dự kiến khởi công vào ngày 19/8/2025. 

  • KCN Rạch Bắp (360 ha, GVR sở hữu 92,67%) đang trong giai đoạn giải phóng mặt bằng. 

  • KCN Minh Long 3 (577,33 ha, GVR sở hữu 39,8%) đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư. 

  • GVR đã thông qua mức chi trả cổ tức tiền mặt năm 2025 là 4%/mệnh giá. 

  • Tiến độ chuyển đổi đất: GVR đặt mục tiêu hoàn tất thủ tục pháp lý, xin phê duyệt đầu tư và khởi công một số dự án KCN trên quỹ đất cao su chuyển đổi trong năm 2025. Hiện công ty đang xin chấp thuận chủ trương đầu tư cho các dự án có tổng diện tích 5.896 ha, tập trung tại các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu. 

  • Tác động từ thuế đối ứng của Hoa Kỳ: Theo GVR, xuất khẩu trực tiếp sang thị trường Hoa Kỳ chỉ chiếm khoảng 8% tổng kim ngạch xuất khẩu cao su, cho thấy mức độ ảnh hưởng trực tiếp là tương đối thấp. Tuy nhiên, công ty vẫn lo ngại các tác động gián tiếp đến chuỗi cung ứng, đặc biệt là sự sụt giảm nhu cầu từ các nhà sản xuất lốp xe tại Trung Quốc. 

  • Thị trường cao su toàn cầu được dự báo sẽ thiếu hụt nguồn cung khoảng 800.000 tấn trong năm 2025, và mức thiếu hụt này có thể mở rộng lên 1 triệu tấn trong năm 2026. Sự mất cân đối cung – cầu này được kỳ vọng sẽ hỗ trợ xu hướng tăng giá bán. GVR dự báo giá bán bình quân năm 2025 đạt khoảng 46-47 triệu đồng/tấn (+6-8% svck), cao nhất có thể lên đến 52 triệu đồng/tấn trong nửa đầu năm. 

  • Kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2025: Doanh thu ước tính đạt 11.500 tỷ đồng (+18% svck), hoàn thành 40% kế hoạch năm. Lợi nhuận trước thuế đạt 2.500 tỷ đồng (+31% svck), tương đương 43% kế hoạch năm 2025. 

  • Luận điểm đầu tư: Cổ phiếu GVR hiện đang giao dịch với P/E dự phóng là 23,4x và P/B là 1,8x, cao hơn đáng kể so với trung bình ngành (P/E 11,9x và P/B 1,15x). Giá trị của GVR được hỗ trợ bởi quỹ đất trồng cao su 380.043 ha, lớn nhất cả nước, tập trung tại các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và Tây Ninh. Việc chuyển đổi hơn 10.000 ha đất trồng cao su sang đất khu công nghiệp được xem là cơ hội mang tính bước ngoặt, mở ra cơ hội mới cho GVR. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn thận trọng với một số rủi ro tiềm ẩn, đặc biệt là bất định xoay quanh thuế đối ứng của Hoa Kỳ, có thể ảnh hưởng đến nhu cầu thuê KCN và gây áp lực lên giá bán cao su tự nhiên, từ đó tác động tiêu cực đến lợi nhuận của GVR trong năm 2025. 

  • Rủi ro đầu tư: (1) Tiến trình chuyển đổi đất từ cao su sang KCN có thể đối mặt với khó khăn và kéo dài. (2) Tái cấu trúc các công ty con trong tập đoàn đang gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc xác định lại giá trị đất trồng cao su. (3) Nhu cầu tiêu thụ cao su có thể suy giảm do triển vọng kinh tế toàn cầu kém tích cực. 

HSC khuyến nghị MUA cp CTR (TP: 123), TĂNG TỶ TRỌNG cp PNJ (TP: 85.3) 

PNJ - Thị trường vàng: Xóa bỏ cơ chế độc quyền của Nhà nước 

  • Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang lấy ý kiến về dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 24, đề xuất bỏ độc quyền sản xuất vàng miếng và cho phép các doanh nghiệp và tổ chức tín dụng được cấp phép sản xuất vàng miếng. 

  • Dự thảo đề xuất NHNN cấp giấy phép cho một số doanh nghiệp, tổ chức tín dụng đáp ứng điều kiện nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng, vàng trang sức mỹ nghệ hoặc bán lại cho các nhà sản xuất được cấp phép. 

  • Các sửa đổi này hỗ trợ tiến trình tự do hóa thị trường vàng và khuyến khích sự phát triển của ngành trang sức. Là doanh nghiệp đầu ngành, PNJ sẽ hưởng lợi từ chính sách này về lâu dài. HSC duy trì khuyến nghị Tăng tỷ trọng với giá mục tiêu là 85.300đ. 

CTR - Tháng 5/2025: Cho thuê hạ tầng và xây dựng dẫn dắt tăng trưởng vững chắc 

  • LNTT 5 tháng đầu năm 2025 của CTR tăng 6,6% so với cùng kỳ, đạt 266 tỷ đồng, trên doanh thu thuần 4.906 tỷ đồng (tăng 6,5% so với cùng kỳ). Doanh thu thuần và LNTT tháng 5/2025 tăng lần lượt 8,3% và 4% so với cùng kỳ đạt 1.081 tỷ đồng và 56 tỷ đồng. Mảng cho thuê hạ tầng (doanh thu tăng 44,2% so với cùng kỳ) và mảng xây dựng (doanh thu tăng 34,3% so với cùng kỳ) là động lực tăng trưởng doanh thu chính trong tháng 5. 

  • Trong 5 tháng đầu năm 2025, CTR bổ sung thêm 610 trạm BTS, nâng tổng số trạm BTS lên 10.610 trạm vào cuối tháng 5/2025. Tiến độ lắp đặt trạm BTS mới trong tháng 4 và tháng 5 chậm hơn so với cùng kỳ do việc xác định địa điểm lắp đặt mất nhiều thời gian hơn dự kiến. Tỷ lệ dùng chung trạm ổn định ở mức 1,03 lần. 

  • KQKD sát với kỳ vọng, hoàn thành 36% dự báo lợi nhuận cho cả năm 2025 của HSC. HSC duy trì khuyến nghị Mua vào và giữ nguyên giá mục tiêu 123.000đ (tiềm năng tăng giá 28%). 

VCSC khuyến nghị MUA cp SIP (TP: 85), cập nhật BFC, FPT  

FPT: LNST sau lợi ích CĐTS 5 tháng đầu năm 2025 (5T 2025) tăng 18% YoY; Khối lượng đơn hàng ký mới của phân mảng CNTT nước ngoài tiếp tục chững lại trong tháng 5 – phù hợp kỳ vọng 

KQKD sơ bộ 5T 2025: 

  • Doanh thu: 27,1 nghìn tỷ đồng (+13% YoY; hoàn thành 38% dự báo cả năm của VCSC). 

  • LNST sau lợi ích CĐTS: 3.613 tỷ đồng (+18% YoY; hoàn thành 40% dự báo cả năm của VCSC). 

  • Các kết quả này phù hợp với kỳ vọng của VCSC, do đó VCSC nhận thấy không có thay đổi đáng kể nào đối với dự báo năm 2025 của VCSC cho FPT, dù cần thêm đánh giá chi tiết. 

KQKD từng mảng kinh doanh trong 5T 2025: 

Phân mảng CNTT nước ngoài: Doanh thu +15% YoY; LNTT +19% YoY. 

  • Tăng trưởng chủ yếu được thúc đẩy bởi các dịch vụ chuyển đổi số (DX), tăng 20% YoY và đóng góp 44% tổng doanh thu phân mảng CNTT nước ngoài. 

  • Thị trường Nhật Bản duy trì đà tăng trưởng vững chắc với tăng trưởng doanh thu 30% YoY. 

  • Khối lượng đơn hàng ký mới (giá trị các hợp đồng CNTT nước ngoài mới) tiếp tục chững lại, chỉ tăng 7% YoY, đạt 17,6 nghìn tỷ đồng. 

  • FPT lưu ý chưa có tín hiệu cải thiện rõ ràng do các công ty nước ngoài vẫn thận trọng trong chi tiêu CNTT giữa bối cảnh bất ổn kinh tế vĩ mô và địa chính trị. 

Phân mảng CNTT trong nước: Doanh thu +12% YoY; LNTT +47% YoY. 

Viễn thông: Doanh thu +14% YoY; LNTT +19% YoY. 

  • Biên LNTT của mảng viễn thông cải thiện 1,0 điểm % YoY lên 22,1%, mà VCSC cho rằng là do tỷ suất lợi nhuận của mảng băng thông rộng được cải thiện và các sáng kiến tối ưu hóa chi phí. 

Giáo dục, đầu tư & các mảng khác: Doanh thu +6% YoY; LNTT +13% YoY. 

  • Tăng trưởng doanh thu khiêm tốn phản ánh tác động có độ trễ từ việc số lượng người học mới giảm hơn 20% YoY trong năm 2024, trong khi tăng trưởng LNTT được hỗ trợ bởi đóng góp từ các công ty liên kết. 

BFC: Duy trì vị thế đầu ngành, hưởng lợi từ chu kỳ thuận ngành phân bón - Báo cáo Công ty 

  • BFC là công ty phân bón NPK lớn nhất Việt Nam theo công suất sản xuất và sản lượng tiêu thụ năm 2024. 

  • Doanh thu thuần của BFC ghi nhận tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) 15% trong giai đoạn 2020-2024. Năm 2024, LNTT đạt 531 tỷ đồng và là mức cao kỷ lục công ty, chủ yếu nhờ (1) sản lượng phân bón phục hồi trong bối cảnh giá nông sản duy trì ở mức cao và thời tiết thuận lợi, và (2) giá bán phân NPK giảm chậm hơn so với giá phân đơn đầu vào. 

  • Năm 2025, thời tiết thuận lợi cùng luật thuế GTGT 5% sẽ là những động lực vĩ mô chính, hỗ trợ ngành phân bón nội địa. 

  • VCSC qua đó dự báo doanh thu gộp/ LNTT của BFC đạt 10 nghìn tỷ/ 561 tỷ - tương đương với tăng trưởng 6%/6% svck. Kết thúc quý 1/2025, BFC đã hoàn thành 26%/25% dự báo doanh thu gộp/ LNTT năm 2025 của VCSC. 

  • BFC hiện đang giao dịch với P/E trượt 12T là 6,8 lần – thấp hơn 49% so với trung vị của các công ty cùng ngành. 

  • Rủi ro đầu tư: (1) Giá nguyên vật liệu biến động bất lợi, (2) Nhu cầu phân bón thấp hơn dự kiến, (3) Áp lực cạnh tranh của thị trường phân NPK. 

SIP: Lợi nhuận tăng trưởng ổn định từ mảng dịch vụ tiện ích - Cập nhật 

  • VCSC đã giảm 17% giá mục tiêu cho CTCP Đầu tư Sài Gòn VRG (SIP) còn 85.000 đồng/cổ phiếu nhưng nâng khuyến nghị từ KHẢ QUAN lên MUA vì giá cổ phiếu của SIP đã giảm khoảng 27% trong 3 tháng qua. Giá mục tiêu thấp hơn của VCSC chủ yếu phản ánh giả định thấp hơn của VCSC về doanh số cho thuê đất khu công nghiệp (KCN) và tăng trưởng giá bán trung bình (ASP) trong giai đoạn 2025–28, chủ yếu do những thách thức từ thông báo thuế quan đối ứng gần đây của Mỹ và các cuộc đàm phán thương mại đang diễn ra, được bù đắp một phần bởi việc VCSC cập nhật giá mục tiêu đến giữa năm 2026. 

  • VCSC điều chỉnh giảm 15%/12% dự báo LNST sau lợi ích CĐTS giai đoạn 2025–26, chủ yếu do: (1) thu nhập tài chính thấp hơn khi VCSC giả định công ty sẽ không thoái vốn thêm tại CTCP Khu công nghiệp Nam Tân Uyên (HOSE: NTC; SIP sở hữu 21,5% cổ phần vào cuối quý 1/2025) trong thời gian còn lại của năm 2025, và (2) đóng góp lợi nhuận gộp thấp hơn từ mảng tiện ích. 

  • VCSC dự báo LNST sau lợi ích CĐTS năm 2025/26 sẽ tăng 4%/7% YoY đạt 1,2/1,3 nghìn tỷ đồng, chủ yếu do thu nhập cốt lõi từ mảng cho thuê và dịch vụ tiện ích KCN cao hơn so với cùng kỳ năm trước, được hỗ trợ bởi doanh số cho thuê đất KCN đạt 74,5/45/53 ha trong năm 2024/25/26. 

  • Trong bối cảnh thách thức ngắn hạn, VCSC tin rằng SIP vẫn có thể cho thuê đất KCN, được hỗ trợ bởi quỹ đất lớn có vị trí chiến lược và đã được giải phóng mặt bằng ở miền nam, khả năng thu hút đầu tư với các khách hàng FDI lớn như Brotex (sợi màu), Gain Lucky (nhuộm/dệt kim), Sailun (lốp xe), và First Solar (tấm pin mặt trời), và thực tế là những khách hàng chủ chốt của công ty trong ngành sản xuất dệt may và ngành lốp xe không phụ thuộc nhiều vào thị trường Mỹ. 

  • Rủi ro: Thuế quan của Mỹ đối với Việt Nam cao hơn dự kiến, dẫn đến doanh số cho thuê đất KCN phục hồi chậm hơn dự kiến; tăng trưởng doanh thu chậm hơn dự kiến từ mảng tiện ích. 

BSC khuyến nghị MUA cp VNM (TP: 64.5), NT2 (TP: 20.05) 

VNM: Chú bò sữa "Cổ tức" 

QUAN ĐIỂM ĐỊNH GIÁ 

  • So với báo cáo cập nhật trước đó, BSC duy trì khuyến nghị MUA cho VNM với giá mục tiêu = 64,500 VNĐ (-9% so với giá mục tiêu trước đó) với tiềm tăng giá +16% và tỷ lệ cổ tức tiền mặt trên giá cổ phiếu +7.4%, tổng cộng mức lợi nhuận cho cổ đông = 23.4% dựa trên giá cổ phiếu ngày 18/06/2025, dựa trên: 

  • Phương pháp P/E mục tiêu với mức P/E mục tiêu = 16.5 được giữ nguyên do tương đương trung bình giai đoạn 2020 – 2022 khi KQKD của VNM ghi nhận suy giảm do giá nguyên vật liệu đầu vào tăng. 

  • BSC cho rằng trong KQKD của VNM có thể sẽ bắt đầu ghi nhận cải thiện nhẹ so với cùng kỳ trong 2H.2025 khi (i) chiến lược tái định vị được hoàn thành và (ii) sức mua của thị trường kỳ vọng dần hồi phục trở lại. 

LUẬN ĐIỂM ĐẦU TƯ 

BSC bảo lưu quan điểm VNM sẽ giữ vững thị phần số 1 tại thị trường nội địa, tăng trưởng doanh số +2% yoy sẽ đến từ sự hồi phục của ngành và thị trường xuất khẩu. 

  • Định giá cổ phiếu VNM đã ghi nhận chiết khấu -22% so với vùng đỉnh của năm 2024 sau đợt giảm khi Mỹ công bố thuế đối ứng (lưu ý hoạt động sản xuất kinh doanh của VNM gần như không bị ảnh hưởng trực tiếp) trở về mức (1) PE FW 2025 = 14.2 lần tương đương -1 lần độ lệch chuẩn 5 năm và thấp hơn trung bình giai đoạn suy giảm 2020 – 2022 = 16.5 lần (2) tỷ lệ cổ tức tiền mặt trên giá cổ phiếu = 7.4% (sau thuế) hấp dẫn hơn so với lãi gửi ngân hàng 12 tháng bằng khoảng 4.8%. 

DỰ BÁO KẾT QUẢ KINH DOANH 

  • Trong năm 2025, BSC dự báo VNM ghi nhận DTT và LNST-CĐTS lần lượt đạt 63,118 tỷ đồng (+2% yoy) và 9,144 tỷ đồng (-2.64% yoy), thay đổi lần lượt -2%/-4% so với dự phóng cũ, tương đương EPS 2025 = 3,916 VNĐ/CP, PE FW 2025 = 14.2 lần. 

RỦI RO: (1) Giá sữa bột tăng cao hơn kỳ vọng  (2) Thị phần VNM bị thu hẹp. 

NT2: Cập nhật KQKD Q1/2025 và ĐHCĐ 2025 

CẬP NHẬT THÔNG TIN ĐHCĐ 2025 

Tóm tắt tình hình năm 2024 

  • Công ty được giao sản lượng hợp đồng Qc 1.05 tỷ Kwh (theo hợp đồng PPA là 4.3 tỷ kwh) và ảnh hưởng của NLTT dẫn đến KQKD Q1/2024 lỗ 158 tỷ VND. Từ tháng 4, NT2 đã làm việc với các bên liên quan và được điều chỉnh sản lượng Qc mới (2.23 tỷ Kwh) giúp lợi nhuận 2024 đạt được 83 tỷ VND. 

Kế hoạch 2025 

  • Doanh thu: 8,212 tỷ VND (+34% YoY). 

  • LNST: 279 tỷ VND (+236% YoY), trong 5 năm gần nhất, kết quả kinh doanh thực tế của công ty đều bằng hoặc vượt 30-80% chỉ tiêu kế hoạch. 

Hoạt động sản xuất kinh doanh 

  • Sản lượng điện đạt 3,467 tỷ Kwh, trong đó 426 triệu kwh sử dụng dầu DO (chiếm 12.3%), còn lại sử dụng khí tự nhiên. LNST từ hoạt động sản xuất điện kế hoạch đạt 42 tỷ VND (-61% YoY) chủ yếu do sử dụng dầu DO. Tuy nhiên, ban lãnh đạo đánh giá hệ thống có đủ nguồn cung cấp điện do đó NT2 sẽ không cần sử dụng dầu DO trong năm 2025 và lợi nhuận từ hoạt động sản xuất điện sẽ cao hơn kế hoạch. 

  • Công ty đã đàm phán với EVN về khoản chênh lệch tỷ giá năm 2019-2021 và khoản phí dịch vụ môi trường rừng với tổng số tiền là 268 tỷ VND (chiếm 86% LNTT kế hoạch) dự kiến thu về trong năm 2025. 

  • Từ tháng 10/2025, công ty sẽ hết khấu hao phần máy móc thiết bị, như vậy sang năm 2026, chi phí khấu hao sẽ giảm từ 690 tỷ xuống 70 tỷ và kéo dài đến năm 2036. Tạo động lực tăng trưởng lợi nhuận trong năm 2026. 

  • Về dài hạn, NT2 và các nhà máy khác sẽ dùng LNG để thay thế khí nội địa để phát điện, khi đó, hiệu suất của NT2 xếp thứ 3 trong 11 nhà máy điện khí (sau NT3 và NT4). Công ty sẽ cần bổ sung thêm hợp đồng phát điện bằng LNG với EVN. 

Hoạt động duy tu, bảo dưỡng 

  • Từ năm 2025, công ty đã ký mới hợp đồng thuê ngoài dịch vụ sữa chữa, bảo trì nhà máy, bên cạnh đó công ty cũng phân bổ công nhân tham gia hoạt động này giúp chi phí sữa chữa giảm nhẹ so với giai đoạn 2014-2024. 

  • Công ty sẽ thực hiện một đợt tiểu tu vào tháng 9/2025. 

ĐÁNH GIÁ CỦA BSC 

  • BSC đánh giá kế hoạch kinh doanh của NT2 tương đối an toàn và khả năng cao sẽ đạt được trên mức 279 tỷ VND (+236% YoY) trong đó 85% đến từ lợi nhuận khác, tuy nhiên, mức lợi nhuận này vẫn thấp so với thông thường 500-600 tỷ VND/năm. Trong ngắn hạn, NT2 vẫn sẽ  gặp nhiều khó khăn nhưng triển vọng dài hạn vẫn tương đối lạc quan với nhu cầu điện tiếp tục tăng trưởng trong khi các nguồn điện mới vẫn còn hạn chế. 

VCBS khuyến nghị MUA cp MWG (TP: 77.726) 

MWG: TĂNG TỐC SAU GIAI ĐOẠN TÁI CẤU TRÚC 

ĐÁNH GIÁ: MUA 

  • VCBS khuyến nghị MUA với giá mục tiêu 77.726 đồng/cp, nhờ triển vọng phục hồi của mảng ICT và chuỗi Bách Hóa Xanh bước vào giai đoạn thu lãi. CẬP NHẬT KQKD: Trong tháng 4/2025, MWG ghi nhận doanh thu đạt hơn 13.000 tỷ đồng, (+6% svck). TGDĐ đạt doanh thu 2.642 tỷ đồng (+25% svck) nhờ nhu cầu điện thoại tăng trở lại, được thúc đẩy bởi các chương trình kích cầu và dòng sản phẩm mới. ĐMX ghi nhận doanh thu 5.690 tỷ đồng, (-4,5% svck) do sức mua điện lạnh chậm lại trong bối cảnh thời tiết không thuận lợi. BHX tiếp tục duy trì đà phục hồi với doanh thu 3.972 tỷ đồng, (+22,4% svck), nhờ gia tăng mở mới và tối ưu vận hành. Lũy kế 4T25, MWG đạt hơn 48.500 tỷ đồng doanh thu, tăng gần 10% svck. Tỷ suất lợi nhuận gộp và biên EBITDA đều cải thiện tích cực, cho thấy nỗ lực nâng cao hiệu quả vận hành và kiểm soát chi phí đang phát huy tác dụng. 

LUẬN ĐIỂM ĐẦU TƯ 

  • Kỳ vọng BHX tăng trưởng lợi nhuận từ quý 2/2025, BHX được kỳ vọng sẽ ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận tích cực từ quý 2/2025 khi đã hoàn tất gần 90% kế hoạch mở mới trong năm. Dù chịu áp lực chi phí đầu tư, BHX vẫn ghi nhận lợi nhuận sau thuế 22 tỷ đồng trong quý 1, với phần lớn cửa hàng mới đã có lãi ở cấp độ cửa hàng. Từ quý 2 trở đi, khi chi phí đầu tư giảm và các cửa hàng mới đóng góp doanh thu ổn định, BHX có thể đạt lợi nhuận ròng khoảng 120 tỷ đồng mỗi quý, tạo động lực tăng trưởng cho MWG. 

  • Tiết giảm chi phí hoạt động sau cơ cấu chuỗi ICT làm gia tăng biên LNST. Chính sách khấu trừ thuế trực tiếp trên các sàn TMĐT khiến nhiều shop cá nhân rút lui, trong khi gian hàng chính hãng tăng trưởng vượt bậc. Đây là cơ hội để MWG, với các thương hiệu như TGDĐ và ĐMX, đẩy mạnh hiện diện online và mở rộng thị phần. Bên cạnh đó, MWG ghi nhận biên lợi nhuận ròng đạt 6,4% trong Q1/25 đến từ chiến lược tối ưu vận hành và cạnh tranh giá giảm nhiệt. 

  • MWG giảm áp lực chi phí khấu hao từ năm 2025. MWG mở rộng mạnh giai đoạn 2020-2022 để chiếm đóng thị phần, tuy nhiên chiến lược này cũng làm gia tăng áp lực chi phí, đặc biệt là khấu hao tài sản. Từ 2023, khi quá trình mở rộng chậm lại, dễ thấy số dư tài sản ròng suy giảm nhanh chóng khi nhiều cửa hàng dần hết thời gian khấu hao. Dự kiến trong năm 2025, khoảng 800 cửa hàng hoàn tất chu kỳ này, giúp MWG tiết kiệm 900 tỷ đồng, cải thiện biên lợi nhuận và tối ưu chi phí vận hành. 

VNDS khuyến nghị KHẢ QUAN cp DCM (TP: 42.8) 

DCM: Giá khí giảm trong khi giá bán tăng thúc đẩy lợi nhuận - Cập nhật 

  • VNDS duy trì khuyến nghị khả quan với tiềm năng tăng giá 21,4% và tỷ suất cổ tức 4,3%. VNDS nâng giá mục tiêu thêm 0,7% trong khi thị giá cổ phiếu gần như đi ngang kể từ báo cáo gần nhất. 

  • Giá mục tiêu cao hơn chủ yếu do dự phóng EPS năm 2025 cao hơn. 

  • P/E trượt 13,9 lần, thấp hơn mức TB ngành, chưa phản ánh đầy đủ triển vọng tăng trưởng LN cũng như vị thế dẫn đầu của doanh nghiệp trên thị trường.